21.11.11

Máy ảnh kỹ thuật số: Chụp ảnh phong cảnh đẹp.

Máy ảnh kỹ thuật số: Chụp ảnh phong cảnh đẹp.


Trong chụp ảnh phong cảnh với máy ảnh kỹ thuật số, bố cục luôn đóng vai trò quan trọng và việc thế nào là một bố cục hợp lý đã mất không ít giấy mực tranh cãi giữa đủ loại trường phái khác nhau. Tuy nhiên, đối với những người mới chụp ảnh, không nên quá sa đà vào những ý tưởng bố cục khác người khi mình chưa thành thạo, mà hãy bắt đầu bằng những quy tắc đơn giản. Tạp chí nhiếp ảnh Pop Photo đã tổng hợp vắn tắt các kinh nghiệm đơn giản cho người mới bắt đầu theo đúng trình tự khởi đầu chữ cái trong chụp ảnh bằng máy ảnh số, quy tắc A (Angle_góc), B (Balance_cân đối), và C (Crop_Cắt cúp).
Tìm góc hợp lý
Để có một bố cục tốt, hãy bình tĩnh. Ảnh: Lanscape Photo.
Để có một bố cục tốt, hãy bình tĩnh. Ảnh: Lanscape Photo.
Sự bốc đồng đôi khi sẽ làm hỏng đi bố cục của ảnh. Hãy thử tưởng tượng khi nhìn thấy một đối tượng rất hấp dẫn, thay vì bình tĩnh xem xét các góc chụp, bạn cứ bấm máy liên tiếp. Do đó, đến khi xem lại ảnh mới thấy góc này hợp lý hơn, góc kia tốt hơn và ước giá có thể chụp lại. Vì thế, tiêu chí đầu tiên để có một bố cục tốt là hãy từ tốn.
Xem xét kỹ khung cảnh muốn chụp, nghiên cứu xem vị trí nào sẽ là tối ưu để đứng chụp ảnh trong sự tương quan giữa ánh sáng chiếu vào đối tượng và trường ảnh giữa người chụp và đối tượng. Chỉ cần đi đi lại lại và quan sát. Xem những yếu tố quang cảnh xung quanh phối hợp với đối tượng thế nào, tìm một chủ điểm chính cần thể hiện thông qua việc đổi các vị trí khác nhau để thêm hoặc bớt các đối tượng phụ xung quanh. Xem xét xem liệu góc sáng chiếu lên đối tượng trong các thời điểm trong ngày sẽ ảnh hưởng đến đối tượng như thế nào.
Cân đối các thành phần
Cân bằng giữa các đối tượng khác nhau trong một bức hình. Ảnh: Landscape Photo.
Cân bằng giữa các đối tượng khác nhau trong một bức hình. Ảnh: Landscape Photo.
Bức ảnh không chỉ gồm có đối tượng chính. Hãy biết cách cân bằng giữa các đối tượng khác nhau trong cùng một bức hình thông qua mối tương quan giữa chúng. Một bố cục cân bằng là bố cục mà ở đó các đối tượng được bố trí một cách hài hòa nhất.
Cái cần điều chỉnh với những bố cục kiểu này chính là khoảng cách giữa máy ảnh và đối tượng và hướng của máy ảnh kỹ thuật số. Quan sát các mối tương quan như thành phần, có thể là cái này thì to hơn/nhỏ hơn cái kia, màu sắc và tông màu hòa hợp nhau hay đối chọi nhau, hay các thành phần có thể kết hợp theo một trục chủ điểm cùng nhau… Một chân máy với khả năng điều chỉnh đứng trên mọi địa hình sẽ trửo nên hữu ích trong trường hợp này.
Để tạo sự hấp dẫn cho một vùng xác định của bức ảnh, hãy làm cho vùng này nổi bật hẳn lên thông qua kích thước, màu sắc hay kể cả sự sắp xếp. Nhưng hãy nhớ đừng để các yếu tố khác cũng lại trở nên quá "nặng", không làm tôn lên vùng ảnh chính mà còn làm sao nhãng đi sự chú ý của người xem.
Hãy nhớ tới quy tắc một phần ba, một quy tắc cổ điển nhưng đôi lúc rất hữu dụng cho những tình huống kiểu này. Hãy đặt các đối tượng cần làm nổi bật ở những đường phân cách (đường phân cách ảo chia ảnh thành 3 phần bằng nhau).
Cắt cúp những gì thừa
Sử dụng ống zoom để loại bỏ các yếu tố xung quanh đối tượng. Ảnh: Landscape Photo.
Sau khi đã tìm được góc, phối cảnh, giờ đến lúc tìm hình thức cúp ảnh hợp lý. Bằng việc sử dụng ống zoom, zoom ra zoom vào sẽ giúp bạn thử nghiệm loại bỏ dần các yếu tố xung quanh đối tượng để tìm ra cách cúp tối ưu nhất nhằm làm nổi bật đối tượng.
Khi cắt cúp, kể cả bằng ống kính hay sử dụng phần mềm xử lý ảnh sau này, nên nhớ để ý đến cái gì sẽ tạo khung cho bức ảnh. Đừng có vô tình bỏ đi mất những chi tiết tưởng chừng thừa như một mẩu cành cây ở tiền cảnh, một dải bóng râm… bởi đôi lúc những chi tiết này sẽ tạo nên một viền khung ảo rất đẹp cho bức ảnh.
Để đối tượng được nét, hãy khép độ mở xuống còn f/11 hoặc f/16. Điều này sẽ hạn chế được hiện tượng ảnh mờ khi chụp ảnh ở xa mà độ mở lại quá lớn. Kiểm tra độ sâu trường ảnh thông qua nút trên máy ảnh hoặc kiểm tra thông qua màn LCD như trên một số máy DSLR tiên tiến hiện nay.
Đứng trước một khung cảnh, đừng vội nhìn vào khung ngắm quang. Hãy thử dùng ngón trỏ và ngón cái của hai tay để khum thành một hình chữ nhật và ngắm khung cảnh trước để định hình tạm thời một bố cục hợp lý. Điều này có một cái lợi là người chụp được nhìn khung cảnh sẽ chụp với một kích thước chuẩn mà không bị tác động bởi các yếu tố crop-factor của ống kính và cảm biến. Sau khi tìm được một vị trí với khung cảnh phù hợp, mới thử nhìn qua khung hình và điều chỉnh các thông số để hoàn chỉnh nốt bố cục.
Không thể nói rằng cứ tuân thủ nguyên tắc là sẽ tạo ra những bức ảnh đẹp. Không thiếu những bức ảnh đẹp mà không theo một quy tắc nào cả. Tuy nhiên, việc nắm vững quy tắc sẽ giúp có được một cách nhìn tiêu chuẩn để chụp ảnh trông hợp lý. Còn từ mức hợp lý đến mức đẹp sẽ phụ thuộc vào khả năng sáng tạo của bạn.

Máy ảnh kỹ thuật số: Quê hương tôi.

Máy ảnh kỹ thuật số: Quê hương tôi.


Chụp phong cảnh không phải chỉ đưa máy ảnh kỹ thuật số lên ngắm và chụp là xong, bởi thể loại này yêu cầu người chụp không những phải nắm vững quy tắc bố cục mà còn phải thật tinh tế trong mỗi lần ngắm máy.
Thời điểm chụp là yếu tố quan trọng nhất trong ảnh phong cảnh. Để có những bức ảnh đẹp, các nhiếp ảnh gia luôn chọn buổi sáng sớm và lúc chiều tà, bởi thời gian này, nhiệt độ và ánh sáng dịu mát, không tạo bóng râm khiến ảnh bị chia khúc.
Sau khi xác định được mình muốn chụp vào lúc nào tức là bạn đã biết luồng ánh sáng lúc đó ra sao, bước tiếp theo, hãy tìm vị trí chụp hợp lý. Từ đó, hãy nghĩ đến điểm nhấn của ảnh là gì, bầu trời, mây, núi, nước hay con đường quanh co.
Dưới đây là những bức ảnh phong cảnh Việt Nam ấn tượng dưới ống kính nhiếp ảnh gia Nguyễn Việt Hùng.

18.11.11

Máy ảnh kỹ thuật số Fujifilm FinePix V10 thiết kế nhỏ gọn

Với trọng lượng 173g  (bao gồm pin và thẻ nhớ), kích thước 84 x 63.5 x 25.4 mm, máy ảnh kỹ thuật số Fujifilm FinePix V10 mang thiết kế nhỏ gọn, mảnh mai, do vậy người sử dụng có thể cất giữ trong túi áo quần khi đi du lịch xa. Màn hình LCD 3.0 inch được coi là ưu điểm, nhưng cũng chiếm một phần diện tích khá lớn ở mặt sau của máy. Thông thường, người ta không thể đạt cả hai thứ một lúc. Màn hình quá lớn so với thân máy nhỏ nhắn cũng đồng nghĩa với việc có một cái gì đó phải nhường chỗ cho màn hình, ở đây chính là các nút điều chỉnh máy. Bảy nút điều chỉnh quen thuộc được sắp xếp thành một hàng hạy dọc theo gờ dưới phía sau thân máy. Điều này tạo cho người sử dụng cảm giác khó khăn và không quen trong việc  bấm nút điều chỉnh.


Các nút điều chỉnh nằm dọc đáy máy gồm : Nút hiển thị màn hình, nút xem lại, và nút điều chỉnh độ sáng tối cho màn hình LCD. Trên đỉnh máy là nút tắt bật nguồn, nút chụp được bao quanh bởi vòng xoay điều chỉnh độ zoom, bên cạnh đó là nút điều chỉnh độ phân giải,  và nút điều chỉnh mức nhạy sáng  . Nhìn chung các nút điều chỉnh có độ to vừa và khá nhạy cảm.
Máy ảnh kỹ thuật số Fujifilm FinePix V10 Zoom có 6 megapixel CCD man hinh với màn hình LCD lớn 3 inch. Mô hình này sẽ giúp bạn để có một chụp trong điều kiện ánh sáng yếu và cũng với tiếng ồn thấp. Zoom quang học 3.4X, lựa chọn định dạng hình ảnh 03:02, khả năng quay phim và độ nhạy ISO thấp sẽ giúp bạn cho hình ảnh hoàn hảo. Phạm vi độ mở ống kính của Fujifilm FinePix V10 Zoom là f/2.8 đến f/5.5. 16MB bộ nhớ trong được sử dụng để lưu các hình ảnh chụp. Những hình ảnh được lưu trong định dạng JPEG. Tốc độ màn trập thay đổi từ 4 to 1 / 2000 giây. Ni-MH pin được sử dụng cho việc cung cấp điện.
Đấy là một chiếc máy được sản xuất để dành cho những người yêu thích sự nhỏ gọn khi đi du lịch, hiện máy đang được bán tại www.eway.vn với mức giá 9.626.000 VNĐ.Truy cập máy ảnh kỹ thuật số Fujifilm FinePix V10 để biết chi tiết các thông số cuả máy.

Máy ảnh kỹ thuật số: Điểm ảo bất tận

Máy ảnh kỹ thuật số: Điểm ảo bất tận


Trong nhiếp ảnh và hội họa, điểm ảo (vanishing point) xuất hiện khi các đường thẳng song song dường như gặp nhau tại một nơi. Số lượng và vị trí các điểm ảo quyết định chiều sâu phối cảnh trên hình. Khái niệm này lần đầu tiên được sử dụng bởi các học giả trong thời kỳ Phục Hưng như Donatello, Masaccio và Leonardo da Vinci.
Một ví dụ điển hình nhất của điểm ảo chính là hiện tượng hai mép một con đường dường như hội tụ tại một nơi nằm rất xa ở chân trời. Chúng ta có thể dùng mắt hoặc thước ngắm kiểm tra vị trí của điểm ảo, từ đó hình dung ra chiều sâu cần diễn đạt. Thông thường, nên sử dụng ống kính góc rộng (hoặc cực rộng) với thiết lập khẩu độ nhỏ để chụp ảnh phong cảnh hoặc khối kiến trúc có xuất hiện những đường thẳng song song để nhấn mạnh vị trí điểm ảo. Lưu ý, số lượng điểm ảo trên ảnh là không giới hạn.

Máy ảnh kỹ thuật số: Tìm hiểu các chế độ máy ảnh.

Máy ảnh kỹ thuật số: Tìm hiểu các chế độ máy ảnh.


Tự động luôn là chế độ tối ưu cho những người mới làm quen với nhiếp ảnh. Tuy nhiên, theo thời gian, người chụp cũng nên khám phá dần những chế độ khác của máy ảnh mà có thể ảnh hưởng tới chất lượng ảnh. Từ đó, phát hiện ra những chế độ đặc trưng khá thú vị khác.
Các chế độ trên máy ảnh. Ảnh: Dreamstime.
Các chế độ trên máy ảnh. Ảnh: Dreamstime.
Tốc độ cửa trập (Shutter) là cơ chế điều khiển cơ hoặc điện, điều khiển màn trập chắn trước cảm biến, cho ánh sáng vào cảm biến trong khoảng thời gian nhanh hay chậm. Tốc độ cửa trập cao (số càng lớn) sẽ bắt dính hình ảnh kể cả chuyển động nhanh. Trong khi tốc độ cửa trập chậm (số càng nhỏ) sẽ làm hình ảnh chuyển động bị vệt mờ và làm cho hình ảnh bị rung.
Độ mở (Aperture) l là khe hở lá thép có thể điều chỉnh to nhỏ để điều tiết lượng ánh sáng vào cảm biến ít hay nhiều. Độ mở rộng (số càng nhỏ) sẽ cho nhiều ánh sáng hơn, làm cho phông nền mờ hơn, trong khi độ mở nhỏ (số càng lớn) sẽ cho ít ánh sáng hơn và phông nền nét hơn.
Bù sáng (Exposure compensation): cho phép bạn tăng hay giảm độ sáng chung của cả bức ảnh. Máy ảnh sẽ tự động điều chỉnh thông qua việc thay đổi các giá trị độ mở và tốc độ cửa trập.
Giá trị phơi sáng (Exposure value) là độ sáng tuyệt đối của bức ảnh.
Đo sáng (Metering) là tiến trình đo độ sáng của khung cảnh cần chụp. Có nhiều chế độ đo sáng tùy thuộc mỗi máy.
Độ nhạy ISO (ISO Sensitivity) đôi lúc được gọi ngắn gọn là ISO, là sự điều chỉnh cảm biến bắt sáng bao nhiêu ở cùng mức thông số phơi sáng. ISO càng cao thì cảm biến bắt sáng càng nhiều (ở cùng một thông số phơi sáng) nhưng cũng sẽ sinh ra càng nhiều nhiễu hạt, dẫn đến chất lượng ảnh bị suy giảm. Tuy nhiên ISO cao có thể đẩy tốc độ cửa trập nhanh hơn ở cùng một thông số độ mở.
Chế độ iA
Chế độ tự động thông minh, máy có thể phân tích khung cảnh và quyết định áp dụng các thông số phơi sáng thế nào cho phù hợp nhất với cảnh đó. Ảnh: Panasonic.

Sau khi tìm hiểu một số khái niệm cơ bản, người chụp có thể tiến tới tìm hiểu một số chế độ sau đây.
Auto/Auto without flash Tự động/tự động không đèn
Ở chế độ này, máy ảnh sẽ quyết định tất cả, bạn chỉ việc giớ máy ảnh lên, ngắm và chụp. Tuy nhiên, do máy tự quyết định mọi thông số nên không thể là tối ưu cho mọi hoàn cảnh được, nhất là trong các điều kiện ánh sáng yếu. Một số đời máy hiện nay có thêm chế độ tự động thông minh (Intelligent Auto) cũng giúp cải thiện được nhiều nhược điểm từ các phiên bản trước dù vẫn còn nhiều vấn đề thiếu sót.
Chế độ này sử dụng rất ít, tuy nhiên cũng rất hữu dụng khi chụp ngoài trời ở điều kiện đủ sáng. Hạn chế sử dụng khi ánh sáng yếu, chụp chuyển động hay chụp với ánh sáng nền. Very few.
Hầu như bạn sẽ không điều chỉnh được gì khi để ở chế độ này ngoài việc chỉnh kích cỡ ảnh hay bù sáng.
Tự động thông minh ("Intelligent" Auto)
Hầu hết các máy ảnh đời mới hiện nay đều đã cải tiến chế độ tự động lên tầm cao mới, vì thế thường được gán tên gọi là các chế độ thông minh. Ở chế độ này, máy ảnh có thể phân tích khung cảnh và quyết định áp dụng các thông số phơi sáng thế nào cho phù hợp nhất với cảnh đó. Một số phiên bản có thể áp dụng thêm các tính năng như nhận diện khuôn mặt, hoặc tự động đo sáng và cải tiến giải thuật phơi sáng (như công nghệ D-Lighting của Nikon hoặc i-Contrast của Canon). Các chế độ này thường cho kết quả tốt hơn các chế độ tự động thông thường.
Tự động thông minh khá hữu dụng khi cần chụp nhanh hoặc không biết chỉnh chế độ nào. Chế độ này phù hợp nhất cho ba khung cảnh định sẵn: Chân dung, Phong cảnh và Cận cảnh. Hầu hết máy ảnh đều có thể nhận diện khung cảnh đêm hay ngày, đối tượng chuyển động hay đứng yên... để điều chỉnh theo.
Hầu như bạn sẽ không điều chỉnh được gì khi để ở chế độ này ngoài việc chỉnh kích cỡ ảnh hay bù sáng.
Mặc cảnh (Scene program)
Đây là các chế độ với những thông số đã được thiết lập sẵn cho những cảnh chụp cơ bản hay gặp trong cuộc sống. Ví dụ, chế độ Chân dung (Portrait) sẽ điều chỉnh độ mở lớn nhất có thể (đề làm nhòe phông nền), kích hoạt nhận diện khuôn mặt để canh nét và để ISO ở mức thấp nhất có thể. Các chế độ mặc cảnh này giúp cho máy ảnh không phải tự động "đoán mò", từ đó đưa ra những thông số phơi sáng hợp lý hơn. Trên thực tế có rất nhiều chế độ mặc cảnh với các thiết lập mặc định khá tốt mà không phải người chụp nào cũng nhận ra.
Sử dụng chế độ này khi bạn thường xuyên chụp cùng một thể loại như chuyên chụp nội thất hay chuyên chụp bãi biển, trời tuyết…
Khi để Scene Program, gần như bạn không điều chỉnh được gì ngoài kích cỡ ảnh, bật/tắt đèn…
Lập trình (Program)
Program lập trình tự động đoán hộ các thông số cho người chụp. Máy ảnh sẽ chọn hộ cho người chụp một thông số độ mở và cửa trập, nhưng vẫn cho phép chỉnh đè các thông số mặc định này.
Program khá tương đồng như chế độ tự động hoàn toàn. Điều khác biệt ở chỗ bạn có thể chỉnh thêm được ISO và lựa chọn chế độ đo sáng.
Ở Program, bạn có thể điều chỉnh mọi thứ ngoại trừ độ mở và tốc độ cửa trập.
Ưu tiên tốc độ (Shutter priority)
Ở chế độ này, người chụp có thể đặt giá trị thông số cửa trập và máy ảnh sẽ tự động tính toán độ mở thích hợp cho phù hợp với ánh sáng của khung cảnh.
Sử dụng Shutter Priority khi bạn cần tốc độ nhanh để bắt dính chuyển động (thể thao) hoặc chậm (để chụp hiệu ứng nước chảy, trời đêm…)
Với Shutter priotity có thể điều chỉnh mọi thông số, trừ độ mở.
Ưu tiên độ mở (Aperture priority)
Ở chế độ này, người chụp có thể đặt thông số độ mở ở một giá trị nhất định, máy ảnh sẽ tự động tính toán tốc độ phù hợp vơi điều kiện ánh sáng khung cảnh.
Sử dụng khi bạn cần điều chỉnh khoảng nét giữa tiền cảnh và hậu cảnh, nhất là khi chụp chân dung hay macro (cho đối tượng nét, còn hậu cảnh mờ) hay chụp kiến trúc (tất cả đều nét).
Với Aperture Priority có thể điều chỉnh mọi thông số trừ tốc độ cửa trập.
Chỉnh tay (Manual)
Ở chế độ này người chụp có thể tự điều chỉnh từng thông số tốc độ, độ mở một cách độc lập nhau và máy ảnh sẽ thông báo giá trị phơi sáng mà người chụp thiết lập sẽ khiến cho ảnh tối hay sáng thông qua thang phơi sáng (exposure). Nếu vẫn còn chưa chắc chắn với chế độ chỉnh tay, có thể chuyển về Program để xem máy ảnh tự động điều chỉnh thế nào, từ đó chuyển sang chế độ chỉnh tay để điều chỉnh theo.
Sử dụng Manual khi bạn muốn tự mình điều chỉnh theo ý muốn.
Ở đó, bạn có thể điều chỉnh: Tất cả các thông số.

Bulb
Đây là một dạng chế độ chỉnh tay, cho phép người chụp mở cửa trập bao lâu tùy thích. Khi người chụp bấm nút chụp ảnh, cửa trập sẽ mở và chỉ đóng khi thả tay.
Sử dụng khi bạn muốn chụp đêm tối chẳng hạn vì có thể để thời gian phơi sáng lâu tùy thích, vượt qua cả các thông số định sẵn của máy ảnh.
Ở Buld, bạn có thể điều chỉnh hoàn toàn các thông số.
Chế độ macro. Ảnh: Karbosguide.
Chế độ macro. Ảnh: Karbosguide.
Một số chế độ mặc cảnh cơ bản của các máy ảnh du lịch.
Chân dung (Portrait): Mục tiêu là lấy nét vào khuôn mặt và làm mờ hậu cảnh. Thông thường chế độ này sẽ chỉnh tiêu cự về khoảng tele trung bình, mở rộng độ mở, kích hoạt chế độ nhận diện khuôn mặt, nụ cười (nếu có), nhận diện màu da, hoặc bật đèn và kích hoạt cơ chế chống mắt đỏ… Nên sử dụng khi chụp ban ngày với ánh sáng tốt, đối tượng đứng yên.
Thể thao (Sports): Chế độ sẽ cố gắng bắt dính đối tượng chuyển động bằng cách tăng tốc độ cửa trập cao nhất có thể, đồng thời tăng cả ISO nếu cần thiết. Các phiên bản tiên tiến hơn có thể kích hoạt thêm cả chế độ chụp liên tục và giải thuật lấy nét bám dính để luôn khóa nét đối tượng định chụp. Cũng chỉ nên chụp trong điều kiện ánh sáng ban ngày tốt, trong các sự kiện thể thao, hoặc có thể chụp trẻ em đang nô đùa.
Macro/Cận cảnh (closeup): Cũng giống như chân dung, chế độ này bản chất là chụp đặc tả nhưng cho đối tượng có kích cỡ nhỏ. Máy ảnh sẽ điều chỉnh hiệu ứng nét tương tự như với chân dung (đối tượng nét, hậu cảnh mờ). Tiêu cự sẽ được chuyển về vị trí có thể lấy nét ở khoảng cách gần nhất. Một số máy ảnh còn có khả năng điều chỉnh cả độ mạnh đèn để tránh đối tượng bị xóa trắng.
Phong cảnh (Landscape): Máy ảnh ở chế độ này sẽ cố gắng điều chỉnh sao cho các đối tượng trong khung hình càng nét càng tốt, đồng thời kích các màu cơ bản lục, lam và đỏ lên hơn bình thường. Tiêu cự sẽ được máy tự động chuyển về góc rộng, độ mở hẹp và lấy nét ở vô cực. Nên chụp với cảnh thiên nhiên ban ngày.

Chụp đêm (Night)/Phong cảnh đêm (Night landscape): Chế độ này chuyên chụp cho các điều kiện ánh sáng yếu, đồng thời duy trì độ chi tiết ở vùng tối mà lại không làm cháy các chi tiết ở vùng sáng (đèn đường chẳng hạn). Night landscapre tương tự như chế độ chụp phong cảnh ngày, nghĩa là các đối tượng trong ảnh càng nét càng tốt. Vì thế máy ảnh sẽ tự động đẩy ISO lên mức trung bình hoặc cao, tốc độ cửa trập chậm, tắt đèn flash. Tuy nhiên, điều chỉnh này dễ khiến ảnh bị nhiễu hạt và rung. Chỉ nên sử dụng khi cảnh đêm không có đối tượng trung tâm (người) mà chỉ là một quang cảnh thành phố, đường phố chẳng hạn.

Chân dung đêm (Night portrait): Khác chế độ phong cảnh đêm một chút do phải điều chỉnh ánh sáng cân bằng giữa đối tượng trung tâm (gần hơn) trong khi các đối tượng ở xa không bị quá tối. Máy sẽ kích hoạt chế độ nhận diện khuôn mặt, đèn (tùy máy), tăng ISO và giảm tốc độ, tuy nhiên các thông số sẽ được tự động điều chỉnh theo đối tượng thay vì quang cảnh. Night portrait sử dụng khi cần chụp ảnh đêm có đối tượng trung tâm (người hay vật) và đối tượng này phải sáng hơn hậu cảnh.

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More